Diễn Đàn Văn Thơ

Giao Lưu Thơ Văn - Không Chính Trị - Tôn Giáo
 
IndexIndex  Trang ChủTrang Chủ  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Ðại Việt Sử Thi 10 & 11

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Ngọc Diệp
Thành Viên Titan


Tổng số bài gửi : 65
Xem : 17444
Ngày Tham Gia : 25/07/2014

11102015
Bài gửiÐại Việt Sử Thi 10 & 11

Ðại Việt Sử Thi 10 & 11
Hồ Ðắc Duy

QUYỂN MƯỜI

HỒ QUÝ LY (1400 )

Cướp ngôi vua, chuyên quyền quá quắc
Ðổi niên hiệu thành nước Ðại Ngu (1400)
Nhận mình con cháu Thuấn Ngu ?
Bỏ họ Lê, đổi họ Hồ từ đây

Thuở bấy giờ có nhiều ẩn sĩ
Cũng nhiều phường quái quỉ lưu manh
Như là Ðồng Thức, Hối Khanh(1401)
Dâng thư xàm tấu mong giành tranh công

Vương Nhữ Chu có công chế tác( 1396)
Làm ra đồng giấy bạc lưu thương
Ðịnh ra tỷ lệ rõ ràng
Quan hai tiền giấy bằng quan tiền đồng

Ông cũng từng đặt ra triều phục
Quy định màu, hia mão các quan
Tùy theo chức tước mà mang
Khi vào triều kiến thêm phần trang nghiêm

Hoàng Hối Khanh dâng lên kế sách(1404)
Lập Hộ Tịch rồi bắt kê khai
Ghi danh từ tuổi lên hai
Chép vào sổ bộ sai người thống kê

Lịnh đuổi về những người lưu lạc
Ra quyết định hạn chế gia nô
Cho mua thóc lúa vào kho
Ðắp đường thiên lý để cho dễ dàng(1402)

Nguyễn Ðại Năng có tài châm cứu(1403)
Dùng kim châm để chữa cho người
Ðặt chức Quảng tế khắp nơi
Chăm nom sức khỏe trông coi giữ gìn

Về hành chính đổi tên các lộ
Ðặt lại chức chánh phó ban cho
Ðịnh ra mức thuế điền tô
Ðặt chức Liêm phóng để dò xét dân(1400)

Hồ Quý Ly dùng trăm biện pháp
Mục đích là đàn áp nhân dân
Sau là để diệt nhà Trần
Thi hành bạo lực chẳng cần nhân tâm

Chỉ trong vòng bảy năm thống trị
Hồ Quý Ly đã thí nhiều người
Xuất vua, giết rể và rồi(1389)
Giết luôn đồng đội, con thầy chẳng thương

Dựng quán xá dọc đường sơn cốc(1402)
Chằng dây thừng để giúp thuyền qua(1399)
Lập thêm trường học nơi xa(1397)
Quan điền chục mẫu để mà trả lương

Dùng chữ Nôm thay luôn chữ Hán(1396)
Lần đầu tiên môn toán ra thi
Khảo hạch có đến bốn kỳ
Chọn ra ngày tháng định kỳ mỗi khoa

Bày ra cách : “Cầu lời nói thẳng”(1392,1405)
Thực chất là cái bẫy giăng qua
Nghề này học được của cha
Ðã làm trước đó mười ba năm rồi

Lại dời đô ra ngoài Thanh Hóa(1397)
Lấy An Tôn làm chỗ đóng đô
Người can thì để ý thù
Tính tình nhỏ nhặt như trò trẻ con

“Cốt ở đức không hơn ở hiểm”
Ðó là lời Như Thuyết căn ngăn(1402)
Ngụy Thức, Nguyển Bẩm tâu rằng :
“Sống cho phải đạo hiếu trung với người”(1397)

HỒ HÁN THƯƠNG ( 1401 - 1407 )

Hồ Hán Thương thay ngôi Quốc Tổ
Ðem đại quân phủ dụ Chiêm Thành
Bồ Ðiền sứ giả nói quanh(1402)
Dân đất Chiêm Ðộng xin mình lui quân
Quý Ly ép dâng luôn Cổ Lũy
Ðặt đất nầy thành lộ Thăng Hoa
Cảnh Chân lại được điều qua
Làm An Phủ sứ đất ta bấy giờ

vua nhà Minh thừa cơ rối loạn
Vì gian thần soán đoạt ngôi vua
Nhiều lần sách nhiễu thăm dò(1403,1404,1405)
Lúc bắt triều cống, khi cho người vào

Ðầu tháng tư vào năm Bính Tuất
Quân nhà Minh đánh thốc Lãnh Kinh (1406)
Ðem sang mười vạn tinh binh
Nguyên Trừng tướng quốc suýt thành tù nhân

Ðến tháng chín thêm lần xâm lược
Tân thành hầu Trương Phụ tướng quân
Ðem theo bốn chục vạn quân
Ðánh vào Pha Lũy tiến dần kinh sư

Một cánh khác thì do Mộc Thạnh(1406)
Mở đường vào tiến đánh tạt qua
Hán Thương ra lệnh quân ta
Trải dài dàn trận để mà nghênh quân

Giặc đánh úp tấn công như chớp
Tướng nhà Hồ đang mải vui chơi
Tả thần Dực Nguyễn Công Khôi
Chết ngay tại trận không lời trối trăn

Quân Thiên Trường không ngăn được giặc
Chúng tràn vào ở khắp Thăng Long
Ra tay vét hết tiền đồng
Thiêu con trai nhỏ, sục lùng gái tơ

Quân nhà Hồ rút về Thanh Hóa
Còn lòng dân thì quá chán chê
Nhà Hồ ác đức quá ghê
Cho nên giặc đến lại về theo phe

Hồ Qúy Ly bị Tầu bắt sống
Trói gô rồi giải thẳng Kim Lăng
Ðặt quan cai trị dần dần
Ðổi thành Giao Chỉ, chia là Phủ Châu (1407)


48 Phủ, 5 Châu áp đặt
Lập ra ty Án sát Ðô ty
Ðặt quan bố chính chỉ vì
Dễ bề cai trị đất chi thành vùng

Tổng kết chung giặc thu tất cả :
Chín nghìn thuyền, chiến mã bốn trăm
Hơn ba triệu mốt hộ dân
Một trăm voi chiến, băm lăm nghìn bò

GIẢN ÐỊNH ÐẾ ( 1407 - 1409 )

Giản Ðịnh Ðế hiện giờ đang ở
Châu Trường Yên Mộ Ðộ lên ngôi
“Diệt Minh” treo bảng cầu người
Ðặng Tất nghe được tới nơi hội cùng

Vua phong Tất quốc công đại tướng
Khắp quân dân hưởng ứng rần rần
Bô Cô một trận oai hùng
Ðánh cho Mộc Thạnh cong lưng chạy về

Giết Lưu Tuấn, Ðô Ty Lữ Nghị
Quân nhà Trần như thế chẻ tre
Tiếc thay vua vốn hay nghe
Mộng Trang sàm tấu giết đi đại thần

Chém Cảnh Chân, bóp hầu Ðặng Tất (1409)
Khiến bao người phẫn uất chán chê
Nghĩa quân tan vỡ tức thì
Mặc cho Trương Phụ ra uy vẫy vùng

Phụ tới đâu, gươm vung tới đó(1409)
Xác người phơi thành núi thảm thay
Có một ruột quấn vào cây
Hoặc đem rán lấy mở nầy đốt chơi

Lại có đứa moi thai, mổ bụng(1409)
Có đứa thì móc họng, cắt tai
Hoặc đem thiến hoạn bé trai
Lùa theo gái đẹp khắp nơi đem về

Ðói thê thảm, dân quê mất trắng
Khắp ruộng đồng lúa chẳng trổ bông
Lại thêm dịch bệnh quá chừng(1407,1409)
Xác người vất vưởng nằm chồng lên nhau

Mấy tháng sau suy tôn Quý Khoáng (1409)
Lên làm vua thống quản quyền uy
Khắp nơi hào kiệt theo về
Chỉnh trang binh mã, chỉ huy mọi người

Trong khi đó lắm nơi trong nước
Nhiều người như Hà Mạc nổi lên
Giết tên Tả Dịch đương quyền(1410)
Quân không thống nhất nên đành bại vong

Vua Trùng Quang hòa trong thế yếu
Sai sứ thần Nguyễn Biểu cầu phong
Giữa triều xem giặc như không
Ðem thân thuyết khách một lòng vì dân

Nguyễn Biểu đem chí nhân, đại nghĩa
Cùng luận bàn ở giữa hành dinh
Mắt nhìn Trương Phụ tổng binh
Buông lời đanh thép nên danh kẻ thù

Trương Phụ cho dọn ngay bàn tiệc
Cổ đầu người để thếch Nguyễn quân
Ðầu lâu luộc chín bày mâm
Nhe răng như dọa quỉ thần cũng kinh

Môi Nguyễn Biểu cạn bình rượu đỏ
Vung tay người vừa gõ vừa ngâm :
“Ngọc thiệt, trân tu đã đủ mùi
Gia hào thêm có cổ đầu người

Nem công, chả phượng còn thua béo
Thịt gấu, gan lân cũng kém tươi
Có lối lộc ninh so cũng một
Vật bày thỏ thủ bội hơn mười

Kìa kìa ngon ngọt tày vai lợn
Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời
Còn ta thì đối với ngươi
Anh hùng hảo hớn ai người hơn nhau

Phụ giận quá cột đầu Nguyễn Biểu
Dưới chân cầu dìm chết mới thôi
Ðặng Dung hận kẻ ác này
Quyết bắt cho được tên này mới thôi (1413)

Kênh soái Già khi trời đã tối
Ðột nhập vào thuyền của quân Minh
Ðịnh tâm bắt Phụ một mình
Vì không biết mặt nên đành chịu thua

Dân và vua hết lòng phục quốc
Ðường ngập nghềnh những bước gian nan
Còn đâu thuở ấy huy hoàng
Nước non Ðại Việt vô vàn nguy nan

Hết Ðặng Dung lại sang Cảnh Dị
Ðến vua Trần cũng bị giặc vây
Vua quan bị lọt vào tay
Tổng Binh Trương Phụ giết ngay mấy người(1413)

Mười hai đời , khởi công dựng nước
Triều nhà Trần chấm dứt từ đây
Một trăm bảy bốn năm dài
Hậu trần thêm bảy năm rồi thay ngôi


QUYỂN MƯỜI MỘT

Năm Giáp Ngọ đặt nguời cai trị (1414)
Một vùng đất Giao Chỉ bấy giờ
Ngọc ngà vơ vét đầy kho
Bắt dân xuống biển để mò ngọc trai


Giặc Minh lại ra tay tàn ác
Chiếm lấy ngay mỏ bạc mỏ vàng(1415)
Dân ta cơ cực cùng đường
Lâm vào thảm cảnh tang thương não nề




LÊ THÁI TỔ HOÀNG ÐẾ (1428- 1433)

Năm Mậu Tuất truyền đi các lộ(1418)
Rằng Lam Sơn Lê Lợi dấy binh
Muôn người nhất loạt tôn vinh
Ðưa làm chủ tướng “Diệt Minh” báo thù

ƠƯ dưới cờ, anh hùng hào kiệt
Cùng một lòng thề quyết đánh tan
Lũ quân xâm lược hung tàn
Giành nền độc lập giang sơn của mình

Kể từ đó dồn binh tích thảo
Gởi truền dơn bá cáo khắp nơi
Anh hùng hội tại Lũng Nhai (1419)
Chung lòng giết lũ giặc trời cứu dân

Trận đầu tiên dàn quân Lạc Thủy
Ðánh Mã Kỳ như thể chẻ tre
Quân lương khí giới thu về
Ba ngàn xác giặc đầu lìa khỏi thân

Tên Lý Bân đem quân lùng sục(1418)
Bị Vương cho mai phục dọc đường
Bắn tên, giặc chết, vô vàn
Hoảng hồn vội rút binh lương chạy về

Giặc kiệt quệ khó bề chống đỡ
Dân thừa cơ từ đó nổi lên
Cùng nhau tiến đánh ngày đêm
Thượng thư Hoàng Phúc phải xin hồi triều(1420)

Giặc đóng đâu, dân theo ở đấy
Như tàng hình, lúc thấy lúc không
Hở ra, giặc bị tấn công
Tham mưu Trần Trí buộc lòng rút lui(1421)

Người Ai Lao, quân vài ba vạn(1421)
Cùng trăm voi giả dạng theo ta
Vào trong doanh trại chung nhà
Nửa đêm bất ý nổ ra phá thành

Vua đích thân chỉ huy cự chiến
Giữa trận tiền vung kiếm dẹp tan
Ai Lao sợ quá chạy luôn
Quân ta đuổi đến Lưu Sơn mới về

Năm Nhâm Dần(1422) nhằm khi tháng Chạp
Người Ai Lao hẹn gặp quân Minh
Hợp tung làm thế liên minh
Ðông Tây giáp lại quyết tình diệt ta

Vua xuống lệnh xông ra đánh mạnh
Cho tiến quân một cánh mở đường
Hậu quân rút khỏi chiến trường
Rồi quay bọc hậu tìm phương đánh vào

Quân Ai Lao không ngờ phản kích
Viện binh giặc nằm tít ngoài xa
Mã Kỳ, Trần Trí xin ta
Tạm thời đình chiến vờ qua lúc này

Núi Chí Linh đồn xây lán dựng
Hai tháng trời gần cạn quân lương
Giết voi và ngựa đỡ lòng(1422)
Mà quân kháng chiến vẫn không nản lòng

Rồi dùng voi tấn công đột ngột
Ðánh Ða Căng, Nhữ Hốt thoát thân(1424)
Nhà Minh sai trả Lê Trăn
Xin ta ngừng chiến rút quân , trá hàng

Tướng Lam Sơn : Lê Hào , Lê Lĩnh
Với đội hình quân lính ngàn tên
Nhằm khi Lê Thạch xông lên
Chẳng may lọt hố chông ghim vào người

Bảo Lê Ngân, vua sai Lê Liệt
Ðường tắt đi vây xiết Ðỗ Gia
Phục binh Bồ Ải quân ta(1424)
Dưới quyền Lê Sát đánh ba hôm liền

Lấy thêm quân vua truyền vây hãm(1425)
Thành Nghệ An cùng quẫn lâu nay
Tướng giặc Trần Trí khoanh tay
Bèn cho đóng kín đợi ngày viện binh

Vây Tân Bình giao cho Lê Nỗ(1425)
Cùng Trần Nảo đánh tới Hóa Châu
Vùng đất Thuận Hóa đã lâu
Dưới ách thống trị , nay vào tay ta

Cho chia quân làm ba mũi nhọn(1426)
Hai đạo dùng giữ chốn biên cương
Chặn binh Lưỡng Quãng tiến sang
Khởi đầu bắc tiến quyết dành lại dân

Giặc ở thành Ðông Quan nao núng
Tướng Lý An, Phương Chính chạy về
Bàn cùng Trần Trí rút đi
Tây Ðô khốn đốn coi bề nguy nan

Ðể giải vây mấy làng phụ cận
Quanh Ðông Quan giặc vẫn cầm chân
Nghĩa quân vây xiết lại dần
Giết Sâm và Ðại ở gần cầu Nhân

Quân viện binh của Vương An Lão
Bị Lê Khả áp đảo tơi bời
Giết đi hơn một nghìn người
Tàn quân còn lại chạy dài qua sông

Vào mùa đông trong năm Bính Ngọ(1426)
Vua nhà Minh cho cử Vương Thông
Ngã Vân Nam , thẳng đến sông
Thêm quân ba vạn đi cùng Mã Anh

Sông Yên Nguyệt vây quanh quân giặc
Giết Trần Hiệp đón bắt Vương Thông
Giặc Minh chết đuối đầy giòng
Chém tên Lý Lượng bắt chừng vạn tên

Cho tiến lên đuổi theo Phương Chính
Bọn Mã Kỳ cố tránh thoát đi
Ta thu quân khí bộn bề
Vương Thông thoát dược chạy về Ðông Quan

Bình Dịnh Vương chọn nơi Phù Liệt
Ðặt bản doanh trực tiếp chỉ huy
Ðông Ðô bốn đạo phân đi
Ðặt quan văn võ dễ bề điều quân

Vương tìm được họ Trần tên Cảo
Lập làm vua bố cáo trong dân
Triện ghi danh tính rõ ràng
Hiệu là Thiên Khánh ngang hàng đế vương

Giặc bị vây lâm đường khốn quẩn
ƠƯ nhiều nơi chúng dẫn ra hàng
Vương Thông mong được bảo toàn
Sai đưa thư đến tính toan nghị hòa

Vua bằng lòng ban ra quân lệnh
Cho từng đoàn binh lính người Minh
Mau mau tập hợp về dinh
Giải trừ vũ khí Yên Kinh cho về

Vương Thông nghe lời tên phản quốc(1426)
Nên đem lòng ngờ vực quân ta
Ðắp thêm thành lũy để mà
Ðợi binh tiếp viện sẽ qua cứu mình

Giận giặc Minh đã không thành thật
Lại sai người bí mật mang thư
Xin binh cứu viện bây giờ
Nên vua quyết định đánh cho tan hàng

Bản doanh nơi Ðông Quan đối mặt
Ðịch và ta chỉ cách sông Lô
Truyền cho Nguyễn Trãi đại phu
Dự bàn việc thảo một tờ chiêu an

Giặc nhiều nơi ra hàng đồng loạt
Tướng nhà Minh hoảng hốt vô cùng
Lấy Thị Cầu chiếm Tam Giang
Diễn Châu cùng với Nghệ An quy hàng

An viễn hầu Liễu Thăng xuất trận(1427)
Ðem theo cùng mười vạn quân binh
Tham tướng Bảo Ðịnh, Lương Minh
Ðô đốc Thôi Tụ cùng mình kéo sang

Tướng Chinh Nam quốc công Mộc Thạnh
Năm vạn quân một cánh tiến qua
Ðánh vào cửa ải Lê Hoa
Dừng chân nghe ngóng lấy đà tấn công

Còn Liễu Thăng vượt vòng Pha Lũy
Quân Lê Lựu lùi giữ Ải Lưu
Kế sách ta đã lập mưu
Chỉ vài ba trận giả đò thua to

Liễu Thăng cho đại quân đánh thốc
Lọt vào vòng mai phục của ta
Bốn bên pháo lệnh nổ ra
Quân Minh tháo chạy kêu la rần trời

Chém Liễu Thăng ở đồi Yên Ngựa(1427)
Ðem bêu đầu trước giữa ba quân
Lương Minh, Lý Khánh lùi dần
Cuối cùng tử trận ở gần Chí Linh

Ngày mười lăm, quân Minh đại bại(1427)
Trói Hoàng Phúc, Thôi Tụ dẫn đi
Ta thu ấn bạc, châu phê
Hổ phù chiến khí đem về Ðông Quan

Ở Vân Nam , tướng già Mộc Thạnh
Thấy rùng mình trước cảnh Liễu Thăng
Vội vàng bỏ cả ba quân
Một mình một ngựa chạy băng trốn về

Ở Ðông Quan giặc nghe đại bại
Vội vàng đem dâng sớ xin hòa
Tức tốc sai sứ mang qua
Xin vua mở lượng hải hà tha cho

Vua xuống lệnh trả tù về trước
Cấp bạc tiền, gạo nước, quân lương
Cho thuyền, cấp ngựa sẵn sàng
Lấy điều nhân nghĩa dạy quân giặc tàu

Cho Phương Chính bắt đầu về trước(1427)
Còn Mã Kỳ thì được theo sau
Hoàng Phúc, Sơn Thọ lao xao
Xốc xếch quần áo dắt nhau trở về

Trước khi đi, đến nơi lạy tạ
Bình Ðịnh Vương trước cửa hành dinh
Vua ta khuyên nhủ giặc Minh
Từ đây, đừng dại chiến tranh với nguời

Bậc quân tử ở đời hiếm có
Vua và Thông luận cổ suy kim
Trước thù, nay lại hàn huyên
Cùng nhau giải mối thù hiềm từ lâu

Uống cạn bầu, chuyện trò tới sáng
Nghĩa hiếu hòa chuyện vãn với nhau
Vua sai đem rượu, đưa trâu
Khôn ngoan đáng bậc ngoại giao tuyệt vời

Năm Mậu Thân, lên ngôi hoàng đế(1428)
Dời đô về ở phía Ðông Kinh
Thuận Thiên niên hiệu chính danh
Ðặc tên : Ðại Việt , sử xanh muôn đời

Vua cùng người nghị bàn việc nước
Luận tội công cho được phân minh(1429)
Lại sai Nguyễn Trãi dâng lên
Bình Ngô đại cáo để truyền trong dân(1428)

Bản tuyên ngôn được rao khắp nước
Cho thần dân biết được ý vua
Nước nhà độc lập bấy giờ
Thái bình thịnh trị cơ đồ phục hưng

Trong tận cùng trái tim vua nói :

1. Từng nghe :
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Ðại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Ðinh, Lê Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Ðường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.

Vì vậy :
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Ðô
Sông Bạch Ðằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi

2. Vừa rồi :
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Ðể trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán.
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi
Ðộc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Nam Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được

3. Ta đây :
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Ðau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi,
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà :
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nghìn chốn bể khơi
Tự ta, ta phải dốc lòng vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện, quân không một đội
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng chí khắc phục gian nan
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay :
Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo
Trận Bồ Ðằng, sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng ruỗi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại
Tuyển binh, tiến đánh, Ðông Ðô đất cũ thu về,
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Ðộng, thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm 1uân giặc : Trần Hiệp đã phải bêu đầu.
Mọt gian kẻ thù : Lý Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan,
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế :
Thằng nhãi con Tuyên Ðức, động binh không ngừng
Ðồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy,
Ðinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại.
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong,
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm nhăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn
Thuận đà ta đưa mũi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thên quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc,
Sĩ tốt kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh,
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn,
Ðánh một trận, sạch không kình ngạc
Ðánh hai trận, tan tác chiêm muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ.
Ðô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội.
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,
AƯm đạm thay ! AÔnh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật !
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân,
Suối Lãnh Câu, máu đào trôi chảy, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc.
Thành Ðan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.
Thần vũ chẳng giết hại, thề lòng trời, ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiến thuyền
ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc.
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cổ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run !
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng.
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức,
Chẳng những mưu kế kỳ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay .
4. Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc.
Aạu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng, ngầm giúp đỡ mới được như vậy.
Than ôi !
Một cổ nhung chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm,
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay.”

Xuống chiếu sai biểu dương sĩ tử
Khuyến khích dân tiến cử nhân tài(1429)
Lắng nghe can gián của người
Lúc bàn việc nước dẫn lời thánh nhân

Với thuộc cấp định công phong tước
Chia ba bậc, phẩm trật rõ ràng
Kê khai tài sản cá nhân
Sổ điền, sổ bộ, chia ban mà làm(1430)

Vua xuống chiếu truyền quan văn võ
Họp bàn về quy cũ bạc tiền(1431)
Không vì ưa thích ý riêng
Mà đem áp đặt lấy quyền bắt dân

Sai giết hết những quân phản nghịch
Giúp giặc làm những việc ác ôn
Ðã không sửa lại lỗi lầm
Tụ bè kết đảng ngấm ngầm âm mưu

Sai tịch thu gia tư những kẻ
Làm lắm điều quốc tệ gia vong
Như là Nhữ Hốt, Văn Phong
Như tên Sùng, Lễ, tên Trung, tên Tồn

Vua giết oan quan Phạm Văn Xảo (1430)
Cũng như là Trần Cảo trước đây (1428)
Cũng như Nguyên Hãn sau này
Vì nghi bội phản giết ngay mấy người

Giết Tư Mã Lê Lai vì cậy (1427)
Có chiến công nói bậy khinh nhờn
Tịch thu tiền của gia trang
Chém ngay những kẻ bán buôn trữ hàng

Vua làm sách Lam Sơn thực lục
Chép lịch triều từ lúc khởi binh
Viết lên sự nghiệp kháng Minh
Ghi công chiến sĩ vô danh muôn đời

Vua lại sai xây cung Vạn Thọ (1428)
Chế tạo thêm chiến cụ, thuyền bè
Ðúc tiền, biểu chế phục nghi
Ðịnh ra ấn tín, quốc huy rõ ràng

Năm Quý Sửu thượng tuần tháng tám (1433)
Vua băng hà chính tẩm Ðông Kinh
Là người áo vải xuất chinh
Mười năm ròng rã kháng Minh phục thù

Khi cõi bờ không còn bóng giặc
Ngài chăm lo việc nước việc dân
Chỉnh tu luật pháp dần dần
Mở mang trường học gương chân thánh hiền (1428)

Ngoài chống giặc, trong yên vận nước
Chuyện áo cơm lo trước cho dân
Lam Sơn thực lục tự thân
Viết lên quan điểm trị dân rõ ràng
Về Đầu Trang Go down
Share this post on: Excite BookmarksDiggRedditDel.icio.usGoogleLiveSlashdotNetscapeTechnoratiStumbleUponNewsvineFurlYahooSmarking

Ðại Việt Sử Thi 10 & 11 :: Comments

No Comment.
 

Ðại Việt Sử Thi 10 & 11

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Văn Thơ :: Forum :: Phòng Thơ (Gửi Bài Viết)-