Diễn Đàn Văn Thơ

Giao Lưu Thơ Văn - Không Chính Trị - Tôn Giáo
 
IndexIndex  Trang ChủTrang Chủ  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Ðại Việt Sử THi 12 - 15

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Ngọc Diệp
Thành Viên Titan


Tổng số bài gửi : 65
Xem : 17564
Ngày Tham Gia : 25/07/2014

11102015
Bài gửiÐại Việt Sử THi 12 - 15

Ðại Việt Sử THi 12 - 15
Hồ Ðắc Duy

QUYỂN MƯỜI HAI

LÊ THÁI TÔNG HOÀNG ÐẾ (1433- 1442)

Thái tử Long, được lên thế chỗ (1433)
Tôn cha là Thế Tổ nhà Lê
Thiệu Bình đổi lại niên ghi
Sai quan Nguyễn Trãi soạn bia, dựng đền

Lê Thái Tông chiêu hiền đãi sĩ
Chọn người tài chiếu chỉ tước phong
Tổ chức khảo hạch thật đông
Ngàn người thi đổ ở trong thời mình

Quốc Tử Giám về kinh để học
Còn bậc ba sách đọc huyện châu
Ðịnh ra ngạch thuế bãi dâu
Lập ra luật ruộng, đầm, ao rõ ràng

Trên ngai vàng vua còn non nớt
Ðại tư đồ Lê Sát ra oai
Hạch quan sách lại hằng ngày
Những điều nhân nghĩa không bày cho vua


Sát quyền uy không thua vương đế
Giết Nhân Chú , bãi phế Ư Ðài
Ðày quan Cầm Hổ ra ngoài
Truất quyền Trinh, Khả, hiền tài ghét ghen

Vua ham chơi thường xuyên bỏ học
Ngự sử quan dở khóc dở cười
Họp bàn viết sớ dâng Người
Khuyên vua chớ có buông lơi tập rèn

Ðã ba năm, tuổi lên mười bốn
Suốt cả đời ở chốn lầu son
May thay tư chất khôn ngoan
Cho nên hiểu ý các quan muốn gì

Sát chuyên quyền lắm khi sàm tấu
Tiếng ong ve đã thấu tai vua
Thái Tông xuống chiếu giao cho
Hình quan xét hỏi thiệt hư thế nào

Bãi chức đại tư đồ Lê Sát (1437)
Ngọc Dao hoàng hậu phế đi
Phong cho Nhật Lệ Chiêu Nghi
Ðược làm chính thức Huệ Phi của người

Vua xuống chiếu truyền sai dẹp loạn
Lại thân chinh quyết đoán ra quân
Ðánh dân thiểu số họ Cầm
Thuận Châu, Thu Vật đầu hàng năm sau (1440)

Phế Nghi Dân, rồi giao con thứ
Húy tên là thái tử Bang Cơ (1441)
Thừa ngôi thái tử bấy giờ
Tạo mầm bạo loạn kể từ hôm nay

Vua rất trẻ tuổi đời mười sáu
Ðã là cha mấy cậu con trai
Hàng trăm cung nữ trong tay
Ngập chìm tửu sắc, ngày ngày hoang dâm

Nguyễn thị Lộ phong hàm học sĩ
Là một người kiều nữ trong cung
Ngày đêm hầu hạ ở cùng
Thái Tông suồng sã lung tung với nàng

Lộ vợ thứ đại thần Nguyễn Trãi
Vừa đẹp người lại giỏi văn chương
Nhân vua đang ở Quy Dương
Ghé thăm Nguyễn Trãi tại vườn Lệ Chi

Vua và Lộ cùng nhau trò chuyện
Lại hàn huyên cho đến suốt đêm
Ðang vui sao bỗng tự nhiên
Một cơn đột quỵ chết liền trong tay

Lộ kinh hoàng cố lay vua dậy
Trâm cài đầu chẳng thấy hồi sinh
Xác vua đang ở bên mình
Long lanh giọt lệ ngấn quanh mắt nàng

Xác vua quàng ở nhà Nguyễn Trãi
Ðưa về kinh mất phải hai ngày
Vào cung rồi phát tang ngay
Khiến cho trăm họ tiếng rày tiếng ve

Mười hai hôm , sau khi biến cố
Ghép Thị Lộ vào tội giết vua
Cả dòng Nguyễn Trãi bị đưa
Tru di tam tộc không chừa một ai

LÊ NHÂN TÔNG HOÀNG ÐẾ (1442- 1459)

Lập Bang Cơ lên ngai hoàng đế(1442)
Hoàng tử là thứ kế con vua
Một người sáng suốt có thừa
Tiếc thay chết trẻ khi chưa truởng thành

Việc triều chính thân hành thái hậu
Buông rèm che nghe tấu việc triều
Lê Khắc Phục , được đi theo
Lại thêm Thụ, Khả góp điều phò vua

Hậu đàn bà mắt lòa chẳng thấy(1449)
Bọn đại thần che đậy cho nhau
Chỉ lo thu vén đem vào(1448)
Kết bè kết đảng, kết giao hoạn thần

Bọn đại quan một đoàn xiểm nịnh
Ghen hiền tài, ghét chính, tà gian
Bên ngoài xã tắc suy tàn
Cậy quyền, ỷ thế làm càng hiếp dân

Nạn hối lộ đã dần thành tật
Việc bán quan mua tước thường xuyên
Nghiêu Tử, rồi lại Trịnh Kiên
Hàn lâm học sĩ dốt nguyên cả làng (1448)

Năm Giáp Tý bắt giam Lê Liệt
Rồi Phục, Khả bị giết oan khiêng(1452)
Ra tayThái hậu nắm quyền
Lệnh bà quyết định mọi đàng trong dân

Năm Bính Dần, chọn nguời khỏe mạnh
Xung vào quân để đánh Chiêm man
Xuất binh chiếm được Chà Bàn
Bí Cai Chiêm chúa đầu hàng quân ta

Phú xin tha cho dân Quy Hóa (1448)
Miền Tuyên Quang đói kém thiếu mưa
Ruộng đồng lúa mọc lưa thưa
Nhiều năm đại hạn mất mùa liên miên

Năm Kỷ Mão, một đêm chính biến
Lê Ðắc Ninh giữ điện cấm quân
Theo phe phản nghịch Nghi Dân (1459)
Cùng hơn trăm đứa leo thành vào cung
----

LÊ NGHI DÂN HOÀNG ÐẾ (1459- 1460)

Giết Nhân Tông, với cùng thái hậu
Ðoạt ngai vàng kết cấu gian nhân
Người trong bè đảng gia ân
Qua Tàu , sai sứ xin ban vương hầu

Tám tháng sau, hội bàn sự việc
Gồm công thần Ðinh Liệt, Lê Yên
Với quan Nguyễn Xí, Ðiện Tiền
Cùng nhau mưu sự giết liền hai tên

Ðóng cửa thành, giử yên thống suất
Bắt Nghi Dân phế truất tức thời
Quần thần hội kiến với nguời
Tư Thành hoàng tử được mời nhận ngôi (1460)

LÊ THÁNH TÔNG HOÀNG ÐẾ (1460- 1497)

Ðó là ngày, giữa năm mồng sáu
Lên ngai vàng lễ hậu phát tang
Cho anh và mẹ đàng hoàng
Rước vào thế miếu lập đàn cầu siêu

Vua có nhiều thiên tư đặc biệt
Là một người cương quyết thực tài
Lại còn võ giỏi văn hay
Làu thông kinh sử thuở nay mấy người



Ngự trên ngai tuổi đời muời tám
Sửa nhân luân, quyết đoán mối giềng
Ðào Biểu truy nghĩa tuyên dương
Ðắc Ninh giết bỏ làm gương cho đời

Nay cho đổi, là thời Quang Thuận
Xuống chiếu truyền tha án tù nhân
Xét xem chức tước bá quan
Cấp cho ruộng đất để làm của riêng

Năm Canh Thìn sai quan Lê Liệt
Ðem quân đi tiễu triệt Bồn Man (1460)
Dựng văn bia ở Mục Lăng
Bắt làm hộ tịch, đe răn phản thần

Lệnh cho khắp các quan huyện phủ
Phải ưu tiên khuyến nhủ nhân tâm
Chăm lo cày cấy siêng năng
Bỏ gốc theo ngọn khuyên dân không làm

Lệ thi Hương vua ban định rõ (1462)
Danh sách thi gạt bỏ những người
Dù cho học giỏi, có tài
Mà vô đạo đức cũng hoài bỏ đi

Lại định kỳ thi Hương, thi Hội
Ðệ nhất thời phải hỏi Tứ Thư
Thứ hai : chiếu, chế, biểu từ
Thứ ba “ thơ, phú. Thứ tư :sách, bài


Về hành chánh, hỏi tay hiểu việc
Chốn nha môn phải biết ký tên
Hưu quan sáu chục trở lên
Ðược về trí sĩ giữ nguyên tước hàm.

Ðổi sáu bộ ra làm sáu viện
Mỗi viện đều riêng tuyển thượng thư
Truyền cho làm việc đúng giờ (1462)
Nhưng saulại đổi y như xưa làm

Tháng hai năm Quý Mùi, thi Hội
Vua thân hành vấn hỏi thí sinh (1463)
Tiến sĩ chọn được Thế Vinh
Bắt loa truyền gọi xướng danh từng người

Trăm kẻ thi một người được đỗ
Treo bảng vàng ngoài cửa Ðông Hoa
Ban ân ủy dụ thật là
Vô cùng trân trọng vang xa dội gần

Năm Giáp Thân (1464) vua về cúng tế
ƠƯ Sơn Lăng theo lệ hằng năm
Giải oan Nguyễn Trãi, chiếu rằng :
“Bổ cho con Nguyễn Trãi chức đồng tri Châu”

Vua nhớ đến công lao Nguyễn Trãi (1467)
Cho phục hồi hết thảy thơ văn
Ðề cao giá trị tinh thần
Phần nào chuộc lại lỗi lầm tiên vương

Sai người đi dò đường, dò bể (1490)
Vẽ bản đồ hình thể quốc gia
Ðịnh ra biên giới nước ta
Ai Lao, Chiêm Quốc thật là phân minh

Việc quân ngũ định thành quy chế (1467)
Chia ra làm mỗi vệ như sau :
Vệ thì : năm sở làm đầu
Sở : hai chục đội được giao tuyển người

Quân số đội là hai mươi chẵn
Luyện côn quyền, thương giản cho tinh
Lúc nào đất nước thanh bình
Cho về một nửa dân đinh cấy cày

Sai Khuất Ðã ra tay đánh giặc (1467)
Ðến Mã Giang vây bắt Ðạo Ðồng
Tiểu trừ ở sách Man Nhung
Dẹp tan giặc cỏ yên lòng nhân dân

Với quần thần, vua ban sắc dụ
Thường hay dùng điển cũ, ý xưa
Răn người bất nghĩa a dua
Lời trong sắc dụ nghe như văn tài

Nguyễn Bá Ký là tay học sĩ
Chê vua không chú ý sử kinh
Không theo lối học thực hành
Phù hoa sáo điễn thiếu phần cách tân

Vua tự xưng Tao Ðàn nguyên soái
Hăm tám người lập hội làm thơ
Ða phần bài xướng của vua
Các quan họa lại ngợi ca hết lời

Vua lại sai Sĩ Liên phụng chỉ
Viết “Ðại Việt sử ký toàn thư”
Phu Tiên năm Hợi bấy giờ
Hơn hai niên kỷ đến chừ mới xong (1479)

Truyền Lễ, Cử, Nhuận, Trung, Ðình Bảo
Biên tập xong chính sự quốc triều
Viết từ Thái Tổ tiếp theo
Soạn thành trăm quyển chia nhiều bộ môn

Các sử quan vâng theo chếu chỉ
Cố cho xong bất kể đêm ngày
“Thiên Nam Dư Hạ Tập” này
Công trình biên soạn đến nay hoàn thành (1483)

Lại sai chép “Thân Chinh ký sự”
Ghi rõ ràng lịch sử đánh Chiêm
Ai Lao cũng đã dẹp yên
Viết thành một quyển để riêng bấy giờ

Luật Hồng Ðức trong Dư Hạ tập
Là biểu trưng luật pháp quốc gia
Hình quan theo đó mà tra
Những điều luật định thật là phân minh

Vua ví mình ngang danh Ðỗ Phủ (1496)
Thường huênh hoang giữa chỗ triều đình
Tao Ðàn nguyên soái xưng danh
Thơ văn khẩu khí chỉ dành hạng trung

Lê Thánh Tông có chừng vài quyển
Ðại khái là “Quỳnh Uyển cửu ca”
“Cổ kim bách vịnh” thi ca
“Xuân vân”, “Kim cổ”, “Anh hoa” thơ Ðường

Về ngoại giao lựa phương khôn khéo
Nước Chiêm Thành chọn mẹo cầu phong
Nhã Lan không dám hai lòng
Bồn, Sơn man cũng phục tùng nước ta

Với nhà Minh thì ta giữ đúng
Cứ ba năm triều cống một lần
Chọn đi những vị sứ thần
Có tài ứng đối ngoại nhân phải gờm

Viết cảo thơm “Bình Chiêm sách lược”(1471)
Mười mấy điều phát trước trong doanh
Tháng năm Tân Mão đánh thành (1471)
Chà Bàn bắt sống tù binh mấy ngàn

Băm tám năm Tư Thành nối nghiệp
Ðược tôn xưng hoàng đế Thánh Tông
Một người nổi tiếng hiếu trung
Có tài văn học, tinh thông lắm điều

Trong đời vua có nhiều trước tác
Ðịnh luật hình cùng các việc binh
Xây thêm đền điện, cung đình
Sửa sang chính sự cho thành nếp hơn

Ðạo làm con, một lòng hiếu thảo (1496)
Khi mẹ đau dâng cháo, hầu cơm
Ngày đêm bên cạnh chăm nom
Ðến khi mẹ chết tự làm ma chay

Viết bút thỏ một bài tự thuật :
“Ngũ thập niên hoa thất xích khu
Cương trường như thiết khước thành nhu
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ

Lộ ấp đình tiền lục liễu tồ
Bích hán vọng tùng vân diễu diễu
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô ?

Ngoài trời rắc mấy hạt mưa
Giấc thiên thu đã vỗ ru đêm dài
“Năm chục hoa niên bảy thước thân

Lòng như sắc cứng bỗng mềm dần
Gió lay khô héo hoa bên cửa
Sương dãi gầy mòn liễu trước sân
Trời biển xa trông mây thăm thẳm
Kê vàng tỉnh giấc dạ bâng khuâng

Khuất lời cách mặt non bồng vắng
Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng ?”
Vua đứng ra, tự mình tẩm liệm
Thay áo quần cho đến rửa chân

Bỏ vào miệng mẹ kim ngân
Cầu xin cho mẹ siêu thần cõi tiên

Lê Thánh Tông người hiền hiếm có
Lúc làm vua uy vũ anh minh
Giữ yên trăm họ thái bình
Xiển dương văn hoá, luật hình sửa sang


QUYỂN MƯỜI BA

Trước khi băng vào năm Ðinh Tỵ (1497)
Giữa triều đình chiếu chỉ truyền ngôi
Lựa trong mười bốn con trai
Hai mươi con gái chọn người lên thay

LÊ HIẾN TÔNG HOÀNG ÐẾ (1497- 1504)

Thái tử Huy lên ngôi hoàng đế (1497)
Là một nguời thông duệ anh minh
Việc quan cho chí việc binh
Thân hành khảo xét, tự mình duyệt phê (1498)

Vua ở ngôi tuổi kề băm bảy
Giữ phép công vẫn phải theo xưa
Thường đem Kinh Dịch, Kinh Thi
Mà răn thần tử giữ bề vua tôi

Năm Kỷ Mùi cho đòi tuyên sứ(1499)
Báo cho dân dự trữ gạo dư (1498)
Không nên xa xỉ dùng bừa
Ðể dành khi đói mất mùa mà ăn

Cũng năm đó cùng quan bộ Lại
Ðiện Kính Thiên vua ngự xướng danh
Truyền loa rao khắp kinh thành
Bảng vàng tiến sĩ một mình Lý Khiêm (1499)

Vua lại truyền thẩm tra quan lại
Tinh giảm dần bộ máy quốc gia
Tham, ngu, dốt, hoặc quá già
Thì cho trí sĩ thải ra loại này

Kể từ nay thân vương, dân chúng
Không cưới xin Man chủng Chiêm Thành
Bảo toàn giòng giống tinh anh
Ðể cho phong tục nước mình giữ nguyên

Cấp áo xiêm tùy theo chức tước
Khi vào chầu cho các quan nha
Thường triều mặc áo tơ gai
Trong ngày quốc kỵ cấm xài vải hoa

Vua chuẩn y lời tâu Lễ Bộ (1503)
Cho đắp đê, đóng vĩ nâng bờ
Ven sông Tô Lịch để hờ
Phòng khi lụt hạn đóng cừ tưới tiêu

Quan Hàn lâm Minh triều đi sứ (1499)
Là Lương Trừ mang ngự sắc sang
Phong làm vua nước An Nam
Lệnh cho lưỡng quốc nghị bàn hiếu thông

Kỳ thi Hội nói chung có khác (1502)
Lễ xướng danh loa bắc truyền ra
Bảng vàng trước ở Ðông Hoa
Nay nhà Thái học đem ra bấy giờ

Quan Gia Ðình Trung Thu Ngoạn Nguyệt
Là bài thơ điểm khuyết của vua
Khuyên dân cày cấy đúng mùa
Một bài ngự chế dăỳn dò như sau :

Tinh hỏa hôn trung dạ
Bồng mang xuất bích đông
Kinh phuơng dương đại thủy
Vệ địa khủng hưng nhung

Tuần tĩnh vưu tâm lý
Suy chiêm mạn di đồng
Bài thơ nói tự đáy lòng
Lưu tâm lụt lội đề phòng về sau


Vua kinh hành ngự vào Thanh Hóa
Bái Sơn Lăng xa giá trở về
Mình rồng nghe đã hơi se
Lại ham nữ sắc có bề đáng lo

LÊ TÚC TÔNG HOÀNG ÐẾ (1504)

Khi sắp băng truyền cho thái tử
Húy là Thuần, con thứ hiến Tông
Một trong sáu vị nối dòng
Lên ngôi cửu ngũ thuận lòng muôn dân

Lễ đăng quang vào năm Giáp Tý (1504)
Từ năm nay niên chỉ Thái Trinh
Ngày sinh Khánh Tiết Thiên Ninh
Ra ân đại xá, thái bình yên dân

Vua ở ngôi được gần sáu tháng
Là một nguời yểu mạng không may
Lại thêm hiếu học tài hay
Làm vua mấy tháng , tiếc thay giữa chừng

LÊ UY MỤC HOÀNG ÐẾ (1504- 1510)

Lúc lâm chung để lời di mệnh
Ðến Hưng Minh, cung thỉnh hoàng huynh
Nguời này tên húy là Huyên
Hiệu Uy Mục Ðế nối quyền chăn dân


Mẹ của vua người làng Phú Chẫn
Thuở cơ hàn tự bán mình đi
Bị sung làm kẻ nô tì
Ðưa vào trong nội cận kề tiên vương

Lúc Hiến Tông còn đang thái tử
Thấy nàng xinh tình tứ thước tha
Ðưa về trong phủ làm hoa
Hạ sinh Uy Mục chợt qua đời liền

Vì thù riêng , giết ngầm tổ mẫu
Người dáng dấp tướng mạo Quỷ Vương
Bất cần triều chính kỷ cương
Gian dâm hiếu sát xem thói thường hung hăng

Mạc Ðăng Dung làm Thiên vũ vệ (1507)
Trong gia phả : hậu duệ Ðĩnh Chi
Vai u thịt bắp coi bề,
Làm quan túc vệ chỉ huy ngự tiền

Vua Uy Mục ngày thêm càng rỡ
Khi say mèm giết cả cung nhân
Ðể cho họ ngoại chiếm dần
Nhữ Vi , Khương Chủng chẳng cần hỏi ai
(1505,1507, 1509)

Cậy quyền thế ra oai vùi dập(1507)
Từ dân lành đến lớp thân vương
Muôn dân ta thán vô vàn
Còn vua thì vẫn cung nhân vui đùa

Theo lệnh vua giết thêm nữ sử (1509)
Và người Chiêm đang giữ trong tù
Giết luôn tôn thất của vua
Hại người cốt nhục không chừa một ai

Trong năm năm trên ngôi hoàng đế
Tội ác nhiều không xuễ mà ghi
Giết người, vét thuế đem đi
Tiêu xài phung phí kể gì của công

Tu Công Dinh họp cùng ba phủ
Ðược tôn lên minh chủ nghĩa binh
Dùng Văn Lang để tiến hành
Diệt trừ bạo chúa xích xiềng ác ôn(1509)

Từ Tây đô đem quân tiến đánh
Uy Mục Vương vội lánh khỏi thành
Tu Công chiếm được Ðông Kinh
Hoàn toàn làm chủ tình hình rối ren

Uy Mục Vương bắt đem giam lỏng
Xác bỏ vào miệng súng bắn đi
Xong đời một kẻ ác di
Một tên bạo ngược quá ghê bấy giờ





LÊ TƯƠNG DỰC HOÀNG ÐẾ (1510- 1516)

Tương Dực Ðế ngôi vua thay thế (1516)
Lấy Ngô Hoán : Tán Trị thừa tuyên
Chỉnh trang bộ máy chính quyền
Lệnh cho bộ Hộ an ninh làm đầu

Nền ngoại giao cũng cùng lối cũ
Sai Lý Khiêm đi sứ sang Minh(1510)
Ðem đồ tuế cống linh đình
Theo như đòi hỏi triều đình Trung Hoa

Minh Chính Ðức cho qua đáp lễ
Sai Hy Tăng, Nhược Thủy đem sang (1513)
Sắc phong vua nước An Nam
Ban cho mũ áo được làm bằng da

Phạm Hy Tăng chê vua dáng lệch
Là “vua Heo” thích việc ăn chơi
Loạn vong sẽ xẩy tới nơi
Ngai vàng Giao Chỉ khó ngồi được lâu

Vua thông dâm nàng hầu của bố(1514)
Rồi giao hoan cả vợ anh em(1515)
Hồ Tây cho sửa sang thêm
Cởi truồng cung nữ chèo thuyền làm vui


Lại sai người đắp thành ngàn trượng(1516)
Làm cống ngầm , đập chắn sông Tô
Cửu Trùng mặt trước đào hồ
Nhà hơn trăm nóc tốn hao vô cùng

Trong nội cung hoạn quan làm loạn
Bọn phản thần định thoán ngôi vua
Nhờ tay Trịnh Hựu ngăn cho
Bọn Hài bị chém bấy giờ mới yên(1510)

ƠƯ trấn biên nỗi lên giặc cỏ
Như Hưng, Hy,Triệt ở Nghệ An (1512)
Lê Hất và bọn Trần Tuân
Vua sai Ðỗ Nhạc đem quân tiểu trừ

Chiếm đất chùa Quỳnh Lâm đại náo
ƠƯ Thùy Ðường Trần Cảo xưng vương(1516)
Ðem quân vây kín phủ đường
Thăng Long chiếm cứ tự phong quốc triều

Tương Dực Ðế đuổi theo Trần Cảo
Cảo chạy thua về thấu đảo Ngọc Sơn
Vua sai Trần Tiến đánh dồn
Cảo quay quân lại giết luôn tướng triều

Trịnh Duy Sản âm mưu phế bỏ
Lừa giết vua ở chỗ Bích Câu
Xác vua vắt vẻo đem vào
ƠƯ trên mình ngựa châm dầu hỏa thiêu

Năm Giáp Tuất(1514) dưới triều Tương Dực
Quan thượng thư Ðông Các Lê Tung
Viết bài Tổng luận tiến dâng
Về kho Ðại Việt, Vũ Quỳnh khảo biên




LÊ CHIÊU TÔNG HOÀNG ÐẾ ( 1516- 1522)

Bọn chuyên quyền đưa ra vua mới (1516)
Húy là Y, hoàng đế Chiêu Tông
Ðổi năm Quang Thuận để xưng
Trong triều ngoài nội Ðăng Dung cầm quyền

Trịnh Duy Sản lấy thêm quân lính
Cùng Nguyễn Thượng đi đánh Chí Linh
Bị quân Trần Cảo vây quanh
Cuối cùng bị giết gần thành Lạng Nguyên(1516)

Quân của Cảo ngày thêm khốn khổ
Bèn rút về trấn ở Lạng Nguyên
Cảo cho trai trưởng cầm quyền
Còn mình xuống tóc tu tiên lánh đời(1516)

Các quan lại tùy thời cát cứ
Ðem quân mình trừ khử lẫn nhau
Trần Chân, Hoàng Dụ rồi sau
Xuân Thi, Nguyễn Áng đánh vào kinh sư

Có Nguyễn Sư bức xúc trước cảnh
Nước nhà lâm vào nạn rối tung
Ra tay cái thế anh hùng
Thử xem thời vận mấy dòng thơ sau :

Những toan phục nước cứu muôn dân
Trời chẳng chiều người cũng khó phần
Sông rộng, Giang Ðông khôn trở gót
Gió to Xích Bích để thiêu quân

Ninh Sơn mây ám rồng xa khuất
Phúc địa trăng soi hạc tới gần
Anh hùng thành bại xưa nay vậy
Chí đời chưa thỏa hận vô ngần

ƠƯ thành đô bây chừ khói lửa(1518)
Giặc tha hồ cướp của lương dân
Trước thì Trần Cảo tang thương
Sau là Duy Nhạc phá tan kinh thành

Mạc Ðăng Dung hồi binh theo lệnh
Của Chiêu Tông bình định loạn quân
Quyền uy, ông tóm thâu dần
Vào tay họ Mạc loại dần người ngay

Vua mưu ngầm cho vời Hiến, Thứ(1522)
Cho người làm mật sứ gọi Tuy
Nửa đêm vua lẻn ra đi
Ðăng Dung biết được cấp truy chận đường

LÊ CUNG HOÀNG HOÀNG ÐẾ
( 1522- 1527)

Sau hiệp bàn , thái sư Lê Phụ(1522)
Lấy em vua đề cử lên ngôi
Lê Xuân được đặt lên ngai
Tân vương là cháu bốn đời Thánh Tông

Ðăng Dung giết Chiêu Tông hoàng đế(1526)
Giữa năm Hợi(1527) lại phế Cung Hoàng
Giáng vua xuống tước Cung Vương
Bắt Hoàng thái hậu giam chung với người

Bà khấn trời trước khi bị thí :
“Mạc Ðăng Dung là kẻ bề tôi
Manh tâm, phế chúa, cướp ngôi
Ngày sau con cháu nó thời như ri”

MẠC ÐĂNG DUNG ( 1527- 1529)

Mạc Ðăng Dung vốn nghề đánh cá
Thuở thiếu thời sống ở Cổ Trai
Có dư sức khỏe hơn người
Xuất thân lực sĩ vào đời hậu Lê

Ðô chỉ huy lên chức Thái phó
Tóm thâu đầy quyền ở trong tay
Ra oai tác quái với người
Bắt vua viết chiếu nhường ngôi cho mình

Dung sai người qua Minh kính báo(1428)
Cắt hai châu tiến cáo đem dâng
Vua Minh thấy thế bằng lòng
Cho quan giao hảo sứ thông bình thường

Mạc Ðăng Dung ngôi vương cướp được
Ba năm trời, bắt chước thuở xưa
Truyền cho con truởng làm vua(1429)
Còn mình Thái thượng được vừa mấy năm

MẠC ÐĂNG DOANH ( 1529- 1540)

Mạc Ðăng Doanh đổi năm Ðại Chính(1429)
Nắm binh quyền ước tính mười năm
Ðiều quân trị nước sai lầm
Nhân dân ta thán hờn căm quá nhiều

Thuở bấy giờ dân kêu thảm thiết
Mấy năm liền chém giết lẫn nhau(1525)
Lại thêm sâu cắn hoa màu(1527,1530)
Nhân dân ly tán khổ đau vô cùng

Nguời ta trông có người lãnh tụ
Ðưa nuớc ra khỏi chổ lầm than
Dẹp yên bè lũ tham tàn
Sâu dân mọt nuớc đã làm suy vong

Năm Canh Dần có ông Lê Ý(1430)
Người họ Lê khởi nghĩa dấy binh
Khắp nơi trong nước tòng chinh
Chỉ vài ba tháng quân thanh lẫy lừng
Mạc Ðăng Dung đem quân đi đánh
Mấy trận liền xính vính tả tơi
Sơn quan tìm lối rút lui
Tống Giang cứ điểm cho người trấn biên

Mạc Ðăng Doanh điều quân Hoằng Hóa
Cùng Quốc Trinh trấn ngã Thạch Thành
Bất thần tung chưởng đánh nhanh
Tuởng rằng thắng thế hóa thành thua to

Quân Lê Ý bấy giờ kiêu ngạo
Vì coi thường nên dẫu hùng binh
Nhân khi sơ ý coi khinh
Bị quân nhà Mạc công thành đánh tan

Bắt được Ý cửa Nam, bãi cát
Lệnh dùng xe xé xác hành hình(1530)
Nghĩa quân tan vỡ rất nhanh
Người thì phân tán kẻ đành chạy sang

Nước Ai Lao chọn đường ẩn náu
Sống tạm thời rèn giáo mài gươm
Chờ khi khôi phục giang san
Dẹp tan bạo chúa trung hưng nước nhà

Doanh cũng cho mở khoa thi Hội
Tuyển nhân tài cứ mỗi tam niên
Trạng nguyên là Nguyễn Bỉnh Khiêm(1535)
Tiến sĩ cập đệ có thêm họ Bùi

Ở trong nước ơn trời đổ xuống
Mưa thuận hòa đất ruộng lúa chiêm
Ðược mùa quốc thống tạm yên
Không còn trộm cướp liên miên như thời...

Họ Mạc sai sang Minh dâng biểu
Nộp sổ sách và chịu xin hàng
Ðăng Dung qùy trước phủ đường
Cột dây vào cổ xin nhường đất đai(1540)

LÊ TRANG TÔNG HOÀNG ÐẾ (1533- 1548)

Nguyễn Kim cho người tìm khắp nước
Kiếm cháu con đời trước nhà Lê
Rước ông Lê Huyến đưa về
Tôn làm Hoàng đế trị vì hùng binh

Từ Lê Lợi khai sinh dấy nghiệp
Ðến Cung Hoàng nối tiếp nhiều năm
Kéo dài niên kỷ hơn trăm
Lê sơ nay chuyển ra làm Trung hưng

Vua Trang Tông (1533) trở về lại nước
Cùng Nguyễn Kim lo việc binh dân
Ngày đêm chỉnh đốn quan quân
Nguyên Hòa niên hiệu, kết thân nước Lào

Tây dựa vào Ai Lao hùng cứ
Bắc thì cho sai sứ cầu phong
Ðất đai giữ được phía trong
Cao Bằng, họ Mạc tranh hùng với Lê
Cả hai xin Tàu về phân xử
Bọn Mạc Lê là thứ hám danh
Ðăng Dung lại tự trói mình
Lấy dây buộc cổ ở thành Nam Quan

Dung dâng biểu đầu hàng quân giặc
Còn Trang Tông lại mách Ðăng Dung :
Tiếm ngôi rồi lại tự xưng
Làm vua Ðại Việt cúi dâng chuyện này

Vua nhà Minh hiểu ngay sự thể (1541-1546)
Mạc Phúc Hải theo lệ cống mình
Lạy , quỳ trước mặt quân Minh
Ðể quan hội khám ở thành Nam Quan

Cho người mang đồ sang tuế cống
Bị quân Minh rẻ rúng bồi thần
Việc này nhục quốc khi dân
Khiến cho bá tánh hận quân cầm quyền

Người trong nước bùng lên khởi nghĩa
Theo Trang Tông vì quá chán chê
Nguyễn Kim là tổng chỉ huy
Anh hùng hào kiệt theo về rất đông

Dương Chấp Nhất gian hùng họ Mạc (1545)
Giả trá hàng giết được Nguyễn Kim
Vua sai Trịnh Kiểm thay quyền
Nam-Lê; Bắc-Mạc hai miền phân tranh

MẠC PHÚC NGUYÊN
(1546- 1561)

Năm Bính Ngọ (1546) Phúc Nguyên kế vị
Việc triều chính lại để chú coi
Khiêm Vương Kính Ðiễn dùng người
Cùng quan Thái tể trong ngoài giữ yên

Mạc Kính Ðiển quyền hành quyết đoán(1546)
Thẳng tay trừ, dẹp loạn Chính Trung
Họ hàng giết lẫn lung tung
Trung bèn chiếm cứ một vùng Quảng Yên

QUYỂN MƯỜI BỐN

LÊ TRUNG TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1548- 1556)

Thái tử Huyên sau khi cha chết
Ðược đưa lên kế nghiệp tiên vương
Năm Mậu Thân (1548) lể đăng quang
Giửa triều ngự thị lo toan nước nhà

Việc Nam Triều phải qua Trịnh Kiểm
Vua giao cho xét tuyển nhân tài
Tính trù mưu lược lựa thời
Trung hưng đế chế trong ngoài vỗ yên

Lê Bá Ly tướng bên nhà Mạc(1550)
Phùng Khắc Khoan và các anh hào
Khải Khang, Nguyên Thiếu cùng nhau(1552)
Vượt biên để tới Nam triều Lam kinh

Vua cả mừng thưởng ban ủy lạo
Phong chức tước áo mão cân đai(1551)
Tùy theo sở đoản mỗi người
Mà trao nhiệm vụ trông coi việc triều

Mở chế khoa vừa treo bảng hổ(1554)
Ðinh Bạt Tụy chấm đổ xuất thân
Người làng Bùi Khổng , Nghệ An
Là tay uyên bác danh nhân bấy giờ

Năm Bính Thìn nhà vua tạ thế(1556)
Nước một ngày không thể không vua
Chọn người tùy ở Thái sư
Tìm trong con cháu Lê Trừ đưa lên


LÊ ANH TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1556 - 1573)

Lê Duy Bang trở thành thiên tử
Lấy Phạm Ðốc Binh bộ thượng thư
Tạm tha thu thuế địa tô
Trung hưng giềng mối tiền đồ tổ tiên


Thuở bấy giờ hai miền Nam Bắc
Ở phương Nam là đất nhà Lê
Phía Bắc họ Mạc trị vì
Lấy đèo Tam Ðiệp mà chia tạm thời

TRỊNH KIỂM (1545- 1570)

Trịnh Kiểm người Sóc Sơn - Vĩnh Lộc
Rất thông minh mưu lược hơn người
Nguyễn Kim yêu mến vì tài
Gã cho con gái , giao coi binh quyền

Khi Nguyễn Kim bị đầu độc chết
Vua trao Kiểm kế nghiệp Tĩnh Công
Toàn quyền thống lĩnh ngoài trong
Ðốc xuất binh tướng , bổ sung nhân tài

Thuần Phúc sai thượng thư Giáp Hải(1566)
Ði lên miền địa giới Lạng Sơn
Ðón Lê Quang Bí sứ thần
Phái đi mười tám năm tròn tới nay

Trịnh Kiểm thay vua Lê điều khiển
Cuộc tương tranh trận tuyến hai miền
Sáu năm chinh chiến triền miên
Một hôm Kính Ðiển đem thuyền tấn công

Vào Thanh Hóa vượt sông Ðại Lại(1555)
Quân nhà lê giữ núi Kim Sơn
Hai bên giao chiến tương tàn
Cuối cùng quân Mạc bị đòn phản công
Thọ Quận Công liệu mình không thoát
Nhảy xuống sông bắt chước Yết Kiêu
Sức người nào dễ chìu theo
Mênh mông sóng nước rong rêu cuốn người

Hai năm sau vua sai đánh nữa (1557)
Thanh Quân Công chống giữ Nga Sơn
Vũ Lăng lựa kế đánh dồn
Khiến cho Kính Ðiển thua luôn trận này(1557)

Ðể đánh trả Kiểm sai năm vạn
Vừa chiến thuyền lính tráng binh lương
Giong buồm trực chỉ Sơn Nam
Hai bên quần thảo cùng đường lui quân

Cuộc chiến tranh không phân thắng bại
Khiến dân tình khốn khổ lầm than
Lòng người quá đỗi hoang mang
Bắc nam tương sát điêu tàn không nguôi

NGUYỄN HOÀNG ( 1558 - 1613)

Năm Mậu Ngọ, tháng mười, Trịnh Kiểm(1558)
Cho Nguyễn Hoàng vào trấn Hoá Châu
Ðắp đài làm lễ đàn giao
Dậm chân đất mới vẹt lau dựng nhà

Bõ những lúc bôn ba sất bất
Nay tìm ra chổ đất dung thân
Lựa nơi hiễm yếu đóng quân
Biễn dâu nay đã biến dần gia trang
Năm Kỉ Mùi vừa gần tháng tám(1559)
Trịnh Kiểm đem sáu vạn tinh binh
Sau khi hiểu rõ sự tình
Ðích thân làm tướng điều binh lên đường

Mạc Phúc Nguyên vội vàng ra ơ Ư
Ðặt dinh cơ trú sở cửa Nam
Ðóng từ Bạch Hạc-Nam Xang
Trại binh, thuyền chiến trải dàn một phương

Mặc cho Kiểm trên đường đánh tới
Chiếm một vùng ra mãi phía Tây
Dụ cho quân Trịnh sa lầy (1560)
Lén sai Kính Ðiển vào ngay Yên Trường

Quân Trịnh Kiểm hoang mang chẳn biết
Bị quân Mạc tập kích sau lưng
Tây Ðô bối rối vô cùng
Thái sư hốt hoảng rút trung quân về

Còn dân chúng nhiều bề khốn khổ
Ðất nước dần đến chỗ tan thương
Ruộng vườn để mặc đất hoang
Con dân ly tán chạy sang nước người

Về xã hội suy đồi cùng cực
Nền kinh tế gặp lúc nguy nan
Sâu rầy cắn nát mùa màng
Khi thì hạn hán khi tràn vở đê(1562)

Nước ngã nghiêng nhiều bề thảm khốc
Lòng trung quân vị quốc hiếm thay
Quần thần vua chẳng tin ai(1562)
Hôm nay trung đó ngày mai phản mình

MẠC MẬU HỢP (1562- 1592)

Mạc Phúc Nguyên chết năm Tân Dậu (1561)
Lúc chiến tranh đổ máu tương tàn
Triều thần tổ chức đăng quang
Tiến phong Mậu Hợp lên làm quốc vương

Ðiều binh tướng , cố ngăn quân Trịnh
Giữ Sơn Nam, chận đánh Trường Yên
Mấy năm tương sát triền miên
Tổn thất sinh mang hai bên quá nhiều

Mạc Hậu Hợp nghe theo Kính Ðiễn
Nhân sau khi Trịnh Kiểm qua đời(1570)
Trịnh Tùng, Trịnh Cối dằng dai
Tranh nhau ngôi báu như loài sói lang

Nhân cơ hội bằng vàng lúc đó
Mạc Kính Ðiển phủ dụ thân vương
Ðem quân mười vạn lên đường
Bảy trăm thuyền chiến giương buồm vào Nam(1570)

Trong lúc đó ngôi vương phủ chúa
Việc tranh chấp ở giữa hai bên
Trịnh Tùng được lập đưa lên
Vua Lê chấp thuận giao quyền quốc gia
TRỊNH TÙNG (1570- 1623)

Trịnh Cối trước vốn là anh cả
Nếu được ngôi là họa cho dân
Một người tửu sắc hoang dâm
Khó lòng điều tướng , cầm quân bấy giờ

Quân họ Mạc từ từ chiếm cứ
Lấy Thanh Hoa , thu giữ Long Sùng
Vua Lê giao tướng Trịnh Tùng
Ðem quân tái chiếm các vùng trước đây

Mạc Kính Ðiển lâu nay vẫn sợ
Nản lòng quân khi ở quá lâu
Truyền cho binh lính lui sau
Vạch con sông Cả đôi bờ phân ranh

Nguyễn Hoàng đi trấn miền Thuận Hóa
Ðem tài riêng cải hóa yên dân
Vua cho thêm đất Quảng Nam
Thống binh suất tướng sửa sang mối giềng

Tướng Nguyễn Hoàng rất nghiêm quân lệnh
Có lòng nhân lại tính khoan hòa
Công bằng phép nước đặt ra
Chấn hưng phong tục, kiểm tra bồi thần

Sống vì dân xả thân vì nước
Ông là người đoán được thời cơ
Quốc gia loạn lạc xác xơ
Nhân tâm ly tán kể từ Mục Vương

Ngoài Nghệ An xảy cơn chính biến(1572)
Vua Anh Tông trốn lén đi xa
Vì nghe Hấp-Ngạn dèm pha
Tả quân quyền thế quan gia khó lòng

Tả tướng quân Trịnh Tùng hay chuyện
Ðem binh gia đến huyện Thụy Nguyên
Rước ngay hoàng tử về liền
Tôn làm hoàng đế vỗ yên lòng người

Lê Cập Ðệ vốn nuôi đại chí
Ðang trên sông mưu thí Trịnh Tùng(1572)
Thương cho một đấng anh hùng
Mưu không thành được bị Tùng chém phăng


LÊ THẾ TÔNG HOÀNG ÐẾ
( 1573- 1599 )

Khi lên ngôi Duy Dân sáu tuổi
Ðổi niên hiệu Gia Thái đầu năm
Việc binh cho đến việc dân
Trịnh Tùng tự tác dần dần thay vua

Xuống lệnh cho Hữu Liên, Ðức Vị
Ði rước về hoàng đế Anh Tông
Gặp vua đang ở giữa đồng
Xin ngài mau chóng để cùng hồi loan


Ðến nửa đường mưu toan bức hại(1573)
Rồi phao vua sợ hãi quyên sinh
Quần thần nghe được thất kinh
Kể từ dạo đó triều đình mới yên

ƠƯ Bắc triều nắm quyền cai trị
Mậu Hợp xem mạch địa Thăng Long(1577)
Sai quan dựng trại ngoài trong
Mở khoa thi Hội yên lòng thứ dân

Năm Mậu Dần(1570) đốc binh Kính Ðiển
Hội cùng quan Ngọc Liễn đem quân
Ðánh vàoThanh Hóa mấy lần
Mặt trên phương Bắc chiếm gần châu Thu

Mạc Kính Ðiển được vua yêu quí
Là một người tài trí thông minh
Với vua một mực trung thành
Trong hàng tướng lãnh vang danh một thời(1580)

Các quan khác xu thời hèn nhát
Chỉ tham tiền, kiếm chác của dân
Hợp thì dâm dục, bất nhân
Bắc triều từ đó đến dần diệt vong

Thành Thăng Long lần này tu bổ(1587)
Sửa sang nhiều những chổ hư hao
Trồng tre chống giặc làm rào(1587)
Ðắp thêm lũy đất còn cao hơn thành

Hợp lại sai dựng đình xây điện
Bày ra trò tiệc yến liên miên
Mê người thiếu nữ : vợ Niên
Lập mưu bức hại, dành riêng cho mình

Bảy mươi năm chiến tranh Nam Bắc
Nỗi kinh hoàng gieo rắc trong dân
Ba mươi tám trận qua phân
Nước non xơ xác muôn phần xót xa

Năm Nhâm Thìn, mồng ba sau tết(1592)
Dựng trai đàn, Tiết chế Trịnh Tùng
Nam giao lễ tế núi sông
Cáo trời Bắc phạt rùng rùng tiến quân

Sông Minh Giang, Trịnh Tùng vừa đến
Cho dựng đồn bày trận trước tiên
Lệnh ban không được thù riêng
Nếu ai vi phạm luật riêng tử hình

Quân đi nhanh qua sông Tô Lịch
Ðến Xạ Ðôi vừa kịp qua sông
Hẹn cùng mai đánh Thăng Long
Cửa Tây thẳng tiến tấn công vào thành

Ba cửa thành Nam Giao Cầu Gỗ
Tướng Trần Phương coi chổ tượng binh
Dàn quân bố trận thật nhanh
Cuốn cờ im trống nghi binh đợi giờ
Qua Thiên Phái , qua đò Ðoan Vĩ
Lệnh xuất quân về phía cửa sông
Ðánh thượng lưu đuổi đến cùng
Mạc quân tan vỡ Quốc công đầu hàng

Tháng mười một, lập xuân vừa tới
Mạc Mậu Hợp tiến thối lưỡng nan
Bốn bề dày đặc quân Nam
Quan binh nhà Mạc vỡ tan dần dần

Quan Tiết chế cho ban quân lệnh
Nhắc binh lính phải tránh tối đa
Kẻ nào phạm đến cửa nhà
Cướp bóc hãm hiếp thì là giết ngay

Quân Nam triều bao vây họ Mạc
Bến Sa Thảo lấy được hàng nghìn
Khí tài, lương thảo, chiến thuyền
Rồi đem nhân nghĩa vỗ yên dân lành

Vua nhà Mạc bỏ thành chạy trốn
Ðem tàn binh về trấn Hải Dương
Trịnh Tùng đuổi đến Tranh Giang
Dừng quân dựng trại , cắt đường về kinh

Mạc Mậu Hợp một mình chạy lạc
Bị dân binh bắt được trong chùa
Trong khi đang giả làm sư
Trói tay, bêu sống, dâng tù đóng đinh

Mạc Kính Chỉ về miềnYên Quảng
Còn Tôn thất tản mạn khắp nơi
Mười phần chết tám còn hai
Xem như họ Mạc hết thời từ đây

Thành Thăng Long cho xây sửa tạm
Chỉ trong vòng một tháng làm xong
Sắm bày xe cộ, nghi phong
Thiết đài lễ đón Thế Tông ngự triều

Ngày mười sáu cờ treo đại yến(1593)
Vua ngồi trên chính điện khai triều
Ban cho ơn trạch trước sau
Ðại xá thiên hạ buổi đầu trung hưng

Còn họ Mạc cuối cùng bôn tẩu
Lấy Bắc phương nương náu thân tàn
Vào năm Ðinh Hợi được dân(1527)
Ðến năm Quý Hợi mất luôn chính quyền(1623)

Sáu bảy năm Ðăng Dung xưng đế
Tiếm ngôi trời quốc thể hưng vong
Cháu con nay phải long đong
Năm đời vua Mạc cuối cùng chuyển qua

Lật trang qua Nguyễn Hoàng thống lĩnh(1593)
Ðem thủy binh bình định Kính Chương
Dồn cho quân Mạc hết đường
Lấy thêm các xứ Hải Dương, Ðại Ðồng


Mạc Ngọc Liễn lâm chung hấp hối(1594)
Bản chúc thư trăn trối thế này:
“Vận nhà Mạc hết từ nay
Họ Lê hưng phục chuyển xoay số trời

Chớ nên mời Minh vào xứ sở
Ðể dân ta đau khổ lầm than
Tội này lớn lắm khó bàn
Ngươi nên nhớ lấy để răn mọi người “

Rất nhiều nơi mất mùa năm đó
Dân Hải Dương chết đói quá cao(1594)
Người ta ăn thịt lẫn nhau
Ngoài đường xác chết gối đầu giơ xương (1595)

Quân trộm cướp nhiễu nhương nhiều chổ(1595-1596)
Chúng đốt nhà cướp của lương dân
Tình hình xã hội bất an
Vua Lê, chúa Trịnh mãi đang tranh giành

Vua nhà Minh nhiều lần sai sứ
Mang điệp văn qua cửa Nam giao(1596)
Ðòi vua hội khán sang chầu
Dây dưa thất hẹn trước sau hai lần

Phùng Khắc Khoan bổ làm Chánh sứ(1597)
Ði mấy tháng mới tới Yên Kinh
Gặp ngày Vạn Thọ vua Minh
Thảo ngay một tập thơ trình vua xem

Vua Minh khen tập thơ Vạn Thọ
Xuống lệnh truyền cho thợ khắc in
Lại sai sứ giả Triều Tiên
Viết lời đề tựa nói thêm mấy điều

Năm Mậu Tuất(1598) có nhiều thay đổi
Thăng Trịnh Tùng lên tới quận công
Nguyễn Hoàng dụng kế thủy quân
Ðánh tan thuyền Mạc ở gần Hải Dương

Lê Thế Tông lại băng sau đó (1599)
ƠƯ ngôi vua hăm bảy năm trời
Quyền hành đã dược người coi
Ðã Vua còn Chúa, thói đời mỉa mai



LÊ KÍNH TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1600- 1619)

Bình an Vương chọn người nối nghiệp
Con thứ là công tử Duy Tân
Lên ngôi đặt hiệu Kính Tông
Ðổi năm Thuận Ðức nối dòng hoàng gia

Thực sựỳ Vua chỉ là đại diện
Cho quốc gia khi tiếp sứ thần
Vua là biểu tượng cho dân
Nhưng quyền quyết định thuộc phần Trịnh Vương


Cho Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa
GiaoTrịnh Tùng phò tá Tây Ðô
Loạn trong cả nước bấy giờ
Quan quân hào trưởng tha hồ ra oai

Cả ba miền nhiều tay cát cứ
Họ Mạc thì trấn giử Bắc phương
Trịnh-Lê chiếm đến Hoàng Giang
Phương Nam riêng để Nguyễn Hoàng đóng quân

Bình An Vương sai Luân đi đánh
Ðem bộ binh vào chiếm phương Nam
Bị dân tại chỗ phá tan
Kể từ dạo ấy đôi đường phân ly

Năm Quý Sửu(1613)Nguyễn Hoàng tạ thế
Mấy ai sống đến dễ chín mươi
Giang sơn một dãi ơn trời
Ðất từ Thuận Quảng kéo dài vô Nam


NGUYỄN PHÚC NGUYÊN (1613- 1635)

Nguyễn Phúc Nguyên nối giòng đời trước(1613-1635)
Tước Thương Công lại được vua Lê
Duy Từ khuyên Chúa lờ đi
Chỉ thêm ràng buột , khó bề mai sau


Ba mươi năm khi vào trấn nhậm
Khai khẫn thành vùng đất phì nhiêu
Ðàng trong hùng kiệt đã nhiều
Nhân taì đất Bắc vào theo lắm người

Và càng ngày càng thêm thanh thế
Biết chiêu hiền đãi sĩ trong dân
Chọn người đảm trách việc quan
Cầm cân nẫy mực làm gương cho người

QUYỂN MƯỜI LĂM

Năm Kỹ Mùi (1619) vào đầu mùa hạ
Vua Lê sai thủ xạ giết Vương
Chẳn may đạn chỉ xẹt ngang
Trịnh Tùng rất giận căm gan bấy giờ

Sau biến cố bức vua thắt cổ
Giam Trịnh Xuân nội phủ tức thì
Ðưa ngay thái tử Duy Kỳ
Lên ngôi cửu ngũ trị vì thay cha

LÊ THẦN TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1619- 1643, 1649- 1662)

Bốn năm qua trong cơn bạo bệnh
Chúa Trịnh Tùng viết lệnh truyền Vương
Giao cho Trịnh Tráng quân quan(1623)
Nắm quyền phủ Chúa sửa sang mối giềng

TRỊNH TRÁNG (1623- 1652)

Không được quyền Trịnh Xuân nổi loạn
Tấn công vào phá tán nội cung
Bức cha cho tới đường cùng
Phóng tên đốt cháy khắp vùng kinh sư

Anh em chúa tranh đồ ngôi báu
Gây nên trò đổ máu lương dân
Lựa thời theo kế Bình Vương
Bắt Xuân, kể tội chặt chân chết dần

Kể từ khi Trịnh Xuân bị giết
Bọn tiếm quyền mới dẹp được yên
Xã tắc trong cảnh thái bình
Nam Bắc tạm hoãn giao tranh bấy giờ

Mỗi ba năm lại cho thi Hội (1627,1630,1634,1637..)
Cả hai miền sĩ tử nhiều nơi
Trịnh-Lê hưng thịnh Ðàng ngoài
Ðàng trong chúa Nguyễn đất đai lớn dần


NGUYỄN PHÚC LAN (1635- 1648)

Nguyễn Phúc Lan thay cha kế vị
Con Kính Ðiễn là mẹ của Vương
Một người dũng lược am tường
Mấy lần chận dứng xâm lăng đàng ngoài

Coi phủ chúa trên mười năm lẻ
Ðến Mậu tý (1648) tạ thế khi đang
Trên thuyền qua phá Tam Giang
Một cơn đột quỵ làm vương từ trần

Năm Quý Mùi (1643) tướng quân Trịnh Tạc
Lĩnh đại binh đến Bắc sông Gianh
Bất ngờ đánh úp thật nhanh
Tấn công Nhật Lệ chiếm thành giữ dân

Người Hà Lan giúp ngầm Trịnh Tráng
Ba chiến thuyền dàn sẵn ngoài khơi
Ðàng Trong trinh sát đã hay
Lập ra kế hoạch đợi ngày phản công

NGUYỄN PHÚC TẦN (1648- 1687)

Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) cho dùng tàu chiến
Khi Hà Lan đã đến gần bờ
Tấn công lúc địch bất ngờ
Ðánh chìm một chiếc giong cờ đuổi theo

Ðến tháng ba cường triều nóng bức
Gió hạ ỳLào thổi rát thịt da
Sức quân cạn kiệt can qua
Vua Lê hạ lệnh rút ra trở về

ƠƯ Ðàng Ngoài từ khi xuống chiếu
Cho nhà thờ giảng đạo Gia Tô
Chừ vua lệnh cấm giáo đồ
Tuyên truyền tả đạo kể từ hôm nay
Giáo sĩ Rhode lệnh rời khỏi nước
Ông là người đoán được về sau
Giúp người truyền bá được mau
Tìm ra chử mới làm sao dể dùng

Ðặt loại vần gọi chung Quốc Ngữ
Ðược viết bằng mẫu tự LaTinh
Dạy cho giáo sĩ thật rành
Soạn thêm tự điển để dành mà tra

Năm Kỷ Hợi (1654) kiểm nhà có đạo
Ở Ðàng Ngoài đồ giáo ba trăm
Nhất là ở đất Sơn Nam
Nhà thờ Thiên Chúa xây gần sát nhau

Truyền ngôi cho con đầu thừa kế
Lê Thần Tông lui để dưỡng già
Chân Tông tuổi mới mười ba
Khi vào triều chính có cha đi cùng


LÊ CHÂN TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1643- 1649)

Chúa Trịnh Tráng được phong Thái úy
Năm Ất Dậu kế vị ngôi cha
Trông coi mọi việc quốc gia
Cung vua phủ chúa hai nhà thông gia


Năm Ðinh Hợi (1645) quân nhà Trịnh Tráng
Ðem đại binh sang đánh Quảng Ðông
Thu hồi đất cũ mấy vùng
Quân ta làm chủ vòng cung đất này

Hai năm sau (1647) chẳn may vua chết
Thái Thượng Hoàng lại thế ngôi xưa
Vén tay coi ngó cơ đồ
Thái bình thịnh trị được mùa nhiều năm


LÊ THẦN TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1649- 1662)

Ỏ đàng trong , khai lâmlấp biễn
Dạy cho dân phát triễn ruộng hoang
Truyền ngôi chúa Nguyễn Phúc Lan
Giao cho thế tử Phúc Tần lên ngai

NGUYỄN PHÚC TẦN (1648- 1687)

Nguyễn Phúc Tần lên ngôi phủ Chúa
Lảnh việc quân vào tuổi ba mươi
Cầm cân nẫy mực trong tay
Chăm coi chính sự đêm ngày lo toan

Ỏ đang ngoài thuyền buôn các nước
Ðưa chiếu thư xin được giao thương
Công ty Ðông Ấn Hòa Lan
Mỡ ra thương điếm ở gần Hưng Yên
Người Hòa Lan mở thêm Phố Hiến
Ở Hãi Hưng làm điễm bán buôn
Thương thuyền tấp nập trên đường
Ma Cao - Ấn Ðộ chở hàng đem sang

Các lái buôn là người Nhật, Pháp
Bồ Ðào Nha muốn cập lên bờ
Thanh Trì, Kẻ Chợ dành cho
Làm nơi thuê mướn lưu cư tạm thời(1662)

Năm Canh Dần(1650) Ðàng ngoài thi Hội
Ðỗ kì này chỉ có tám người
Thế Hiền tiến sĩ Giáp Khôi
Trịnh Cao,Văn Lễ sáu người xuất thân

Cuối Tân Mão(1651)Ðàng trong mở cửa
Nước Hà Lan cử sứ giảÔ sang
Vertegen xin giao thương
Phúc Tần đồng ý cho bàn hiệp thương

Một hiệp ước được vương kí kết
Với Hà Lan trong việc bang giao
Faifô thương điếm dồi dào
Lại cho miễn thuế hàng vào nước ta

Năm Aãt Mùi(1655) vừa qua tháng tám
Nguyễn điều binh đi đánh Trịnh quân
Trịnh Lương túng thế lùi dần
Bắc Hà, Nghĩa Liệt dậm chân đợi ngày

Cho viện binh vua sai Trịnh Tạc
Ðem đại quân cùng các thân vương
Ðiểm binh hạ lệnh lên đường
Phúc Tần được báo vội vàng dời binh

Quân Trịnh-Nguyễn giao tranh liên tục(1652-1662)
Cuộc chiến này tàn khốc dã man
Khi thì đột phá phương Nam
Khi thì Bắc phạt tan hoang ruộng vườn

TRỊNH TẠC (1657 - 1682)

Trịnh Tráng chết, chúa nhường thừa kế
Giao con mình thay thế việc quân
Vua phong Trịnh Tạc đại thần
Nắm quyền cai trị trấn an biên thùy

Lê Thần Tông làm vì cho có
Vừa băng hà vào độ cuối thu
Ðứa con Duy Vũ còn thơ
Huyền Tông là hiệu bấy giờ nhận ngôi

LÊ HUYỀN TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1663- 1671)

Vua Huyền Tông lên ngôi kế vị
Lãnh sắc phong theo lễ quốc vương
Vua sai Lê Hiệu lên đường
Mang theo lễ cống đem sang Thanh triều

Trong chín năm dưới triều Duy Vũ
Có năm lần bão lốc vỡ đê (1663,1668,1670à)
Gắt gay nắng, mưa dầm dề
Mùa màng mất trắng nhiều bề khó khăn

Ðất Cao Bằng giao cho họ Mạc (1669)
Sau mấy lần Trịnh Tạc thảo chinh
Sau theo đề nghị vua Thanh
Bốn châu tạm cắt đất mình trao đi

Ðạo Gia Tô, trong ngoài cấm đoán
Bắt người dân phỉ bán giáo điều
Ðàng Ngoài giáo sĩ khá nhiều
Trăm ngàn tín hữu đi theo đạo này(1664)

Các giáo sĩ từ Tây phương đến
Theo thương thuyền những chuyến ngang qua
Thương nhân nhưng lại thực ra
Họ là giám mục hay là thừa sai(1669)

ƠƯ Ðàng Ngoài cho tàu được đáp(1672)
Các công ty Anh Pháp giao thương
Mở ra phố điếm, hiệu buôn
Ðổi trao sản vật, mua hàng đem ra

Cấm triệt để buôn qua bán lại
Với nước ngoài các loại điểu thương
Nhất là quân dụng tai ương
Ai mà vi phạm khám đường giam ngay

LÊ GIA TÔNG HOÀNG ÐẾ ( 1672- 1675)

Năm Tân Hợi lên thay ngôi vị(1671)
Cho anh mình Hoàng đế Huyền Tông
Là người mới chết vừa xong
Triều thần tôn gọi Gia Tông từ này

Năm Nhâm Tí(1672)vua sai Trịnh Tạc
Cùng Trịnh Căn dùng các quân doanh
Ước chừng mười tám vạn binh
Vượt qua phòng tuyến tiến nhanh vào miền

Bị quân Nguyễn bao quanh đánh rát
Sáu tháng sau Trịnh Tạc phải lui
Chiến tranh tạm lắng từ nay
Sông Gianh đành cắt chia đôi hai miền

Ðầu tháng tư nhằm năm Ất Mão(1675)
Phủ Trịnh cho khẩn báo vua băng
Cả nhà họ Trịnh bàng hoàng
Vì vua và chúa như tuồng anh em


LÊ HY TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1676- 1704)

Ðể nối ngôi chúa đem thế tập
Hoàng đế là Duy Cáp đưa lên
Vĩnh Trị năm ấy nguyên niên
Hy Tông hoàng đế rao truyền trong dân

Phạm Công Trứ là quan Ðông Các
Một người hiền tháo vát tài ba
Cũng là một vị sử gia
Có nhiều trước tác như là :Tục Biên

Tám năm trước sanh tiền chưa mất
Trịnh Tạc cho đánh đất Cao Bằng
Ðời Mạc hơn tám mươi năm
Ðến đây chính thức diệt vong hoàn toàn

Ở Ðàng Trong, Chúa ban tướng cũ
Của nhà Minh, đông phố định cư
Mạc Cửu được cấp đất cho
Mở mang cương thổ kể từ Hà Tiên

Ðất phía Nam một miền sung túc
Mà Ðàng Ngoài bão lụt liên miên
Thế mà còn sửa chùa chiền
Làm cho dân khổ hao tiền tốn công

Nguyễn Sĩ Dương, hết lòng soạn sử (1681)
Ông đã biên Thực Lục triều Lê
Trung hưng công nghiệp nhiều bề
Tục biên sử kí Lê Huy viết lời

Bài đề tựa vua sai biên soạn
Sửa những phần khôn đúng bổ sung
Giữ lại bài của Lê Tung
Làm bài tổng luận vô cùng tuyệt luân

TRỊNH CĂN (1682- 1709)

Con Trịnh Tạc :Trịnh Căn thế tử
Ðược truyền ngôi nối giữ tước vương
Sửa sang chính trị mối rường
Ngoại giao khôn khéo chỉnh trang nhiều bề

Hoàng đế Pháp Louis 14(1682)
Gửi quốc thư đến chốn triều đình
Trịnh Căn chuẩn thuận hoan nghênh
Gửi thư phúc đáp tỏ tình bang giao

Lê Hy Tông yêu cầu Trung Quốc (1688- 1689)
Trả lại vùng đất nước biên cương
Mà dân Thanh đã lấn đường
Vượt qua cột mốc giao thương hai đàng


NGUYỄN PHÚC TRĂN (1687- 1691)

Nguyễn Phúc Trăn được trao ngôi chúa
Năm vừa rồi(1687)chọn lựa dời đô
Phú Xuân xây dựng cơ đồ
Thành trì gia cố bồi tô miếu đường

Ông cũng còn gọi là chúa Nghĩa
Chọn làm người kế vị tiên vương
Thuế tô tha giảm mọi đường
Tính tình rộng rãi nhún nhường khiêm cung

Cho tiên phong đem quân cứu viện
Vì Chân Lạp nội chiến tương tàn
Bổ sung cho tướng Dương Lâm
Tinh binh thiện chiến định an cả vùng

Chúa Nguyễn Phúc cuối cùng đánh bại
Vua Chiêm Thành ở mãi Ðàng Trong
Bởi Chiêm không chịu phục tùng
Lại đem quấy nhiễu ở vùng Diên Ninh



NGUYỄN PHÚC CHU
(1691- 1725)

Vừa trưởng thành thì cha tạ thế
Nguyễn Phúc Chu kế vị phụ vương
Một người am hiểu tinh tường
Lo toan chính sự mở mang cõi bờ

Ðễ giữ vững cơ đồ xã tắc
Chúa chọn người sát hạch nghiêm minh
Quan tâm đãi sĩ chiêu hiền
Cầu lời nói thẳng ngục hình giảm khinh

Phủ Gia Ðịnh khai sinh gần cuối
Năm Mậu Dần (1698)triều đại Hiễn Tông
Chưởng cơ Hữu Kính được phong
Làm quan Kinh lược vào trong xây đồn

Xứ Sài Gòn lập doanh Phiên Trấn
Ðất Ðồng Nai là trấn Biên Dinh
Sàigòn thuộc huyện Tần Bình
Minh Hương thị xã dành riêng Hoa Kiều

Ðất Gia Ðịnh có nhiều sông rộng
Phía Ðông Nam đất ruộng Cần Giờ
Tây Bắc dựa núi Lấp Vò
Có sông Ngưu Chữ bến đò Thủ Thiêm

Năm Canh Thìn (1700)Ðàng Trong thao diễn
Lấy ngựa nòi nổi tiếng xung quân
Trong khi ngoài Bắc đăng quan
Mở ra thi Hội đỗ gần hai mươi

Năm Nhâm Ngọ(1702)nước trôi đê vỡ
ƠƯ Thanh Hoa nước lội quá đầu
Mất mùa hạn hán năm sau
Nhân dân sơ tán lao đao vô cùng


LÊ DỤ TÔNG HOÀNG ÐẾ
(1705- 1728)

Lê Hy Tông mới vừa tạ thế (1705)
Lê Duy Ðường kế vị vua cha
Bấy giờ hết nạn can qua
Binh đao tạm lắng quốc gia thái bình


ƠƯ trấn biên giặc Nùng quấy phá
Tàu Anh Quốc đổ bộ Côn Luân
Ðảo quốc cùng với Phúc Phan
Lập đồn trấn thủ đánh tan giặc này

Ðai phòng ngự lập ngay Phiên Trấn
Sai Cửu Vân khai thác Vũng cù
Xây thành đắp lũy phòng , lo
Luân phiên canh gác không cho giặc vào


Vua Ai Lao cưới con họ Trịnh
Cuộc hôn nhân để tránh ngoại xâm
Ðàng trong dẹp loạn dân Chăm
Lấy tên nước cũ an phần nhân tâm

Chiêu tập dân khai hoang vỡ đất
Mạc Cửu xin thần phục Ðàng Trong
Chúa bèn xuống lệnh gia phong
Cử làm trấn thủ coi vùng Hà Tiên

Miền đất biễn ngày thêm đông đúc
Là một vùng sung túc mở mang
Lập nên thương cảng phía Nam
Thuyền buôn các nước thuận đường ghé qua
Về Đầu Trang Go down
Share this post on: Excite BookmarksDiggRedditDel.icio.usGoogleLiveSlashdotNetscapeTechnoratiStumbleUponNewsvineFurlYahooSmarking

Ðại Việt Sử THi 12 - 15 :: Comments

No Comment.
 

Ðại Việt Sử THi 12 - 15

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Văn Thơ :: Forum :: Phòng Thơ (Gửi Bài Viết)-